slogan

Hotline: 0903.731.120

Chào mừng đến với bệnh viện taimuihongonline.com.vn

Bệnh viện phòng khám taimuihongonline.com.vn chuyên khám bệnh tai mũi họng online, thư viện điện tử chuyên ngành sức khỏe, y tế. Bệnh viện ra đời với mục đích đóng góp phần nào vào sự hiểu biết của công chúng đối với các bệnh lý vùng tai mũi họng từ đó có kiến thức để tự bảo vệ mình, có hiểu biết đúng đắn về các bệnh ở vùng này để có biện pháp phòng tránh và điều trị thích hợp, có một quyết định đúng đắn trước vấn đề mổ hay không mổ.vv…

Phòng kh
ám taimuihongonline.com.vn tập hợp một số Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ chuyên khoa đã trải qua nhiều năm công tác trong lãnh vực tai mũi họng với mong muốn được mang những kiến thức, hiểu biết của mình ra phụng sự cho bệnh nhân. Những kiến thức mà chúng tôi cung cấp chỉ có tính chất tham khảo, không phải là chỉ định bắt buộc.

download

Tin trong nước

​Nhận biết bệnh viêm V.A cấp và mạn tính

Cập nhật: 19/03/2018
V.A là tên viết tắt của Végétations Adénoides, là một tổ chức lympho nằm ở vòm họng, là một phần thuộc vòng bạch huyết Waldeyer, còn gọi là amiđan Luschka. V.A phát triển mạnh ở lứa tuổi nhỏ và bắt đầu thoái triển từ 5-6 tuổi trở đi. Viêm V.A cấp tính là viêm nhiễm cấp tính, xuất tiết hoặc có mủ ở amiđan Lushka ngay từ nhỏ, cũng có thể gặp ở trẻ lớn và người lớn (nhưng rất hiếm). Viêm V.A mạn tính là tình trạng V.A quá phát bệnh quá nặng hoặc xơ hoá sau viêm nhiễm cấp tính nhiều lần.

Ở trẻ sơ sinh, bắt đầu đột ngột, sốt cao 40 độ C - 41 độ C, thường kèm theo những hiện tượng phản ứng dữ dội như co thắt thanh môn, co giật. Ở trẻ lớn hơn cũng có thể bắt đầu đột ngột sốt cao, kèm theo co thắt thanh quản, đau tai và có khi có phản ứng màng não nhưng diễn biến nhẹ hơn ở trẻ sơ sinh. 
 

bệnh v.a
Một số biểu hiện điển hình là trẻ ngạt mũi, trẻ sơ sinh có thể ngạt mũi hoàn toàn


>>Xem thêm:  Biểu hiện thường thấy khi bị sỏi amidan
 

Biểu hiện bệnh V.A phổ biến 


Một số biểu hiện điển hình là trẻ ngạt mũi, trẻ sơ sinh có thể ngạt mũi hoàn toàn phải thở bằng miệng, thở nhanh, nhịp không đều, bỏ ăn, bỏ bú. Trẻ lớn hơn không bị ngạt mũi hoàn toàn nhưng thở ngáy, nhất là về đêm, tiếng nói có giọng mũi kín. Ở người lớn nếu có còn bị viêm họng sau lưỡi gà, ù tai, nghe kém.

Viêm V.A cấp: Thường xảy ra ở trẻ từ 6-7 tháng tuổi đến 4 tuổi nhưng cũng có khi gặp ở trẻ lớn hơn. Trẻ bị sốt 38-30o, cũng có thể sốt cao hơn, chảy mũi, lúc đầu chảy mũi trong, loãng, những ngày sau thường chảy mũi nhầy, mủ. Trẻ cũng bị ngạt mũi, dấu hiệu này được thấy rõ hơn khi trẻ ngủ, ở những trẻ còn bú mẹ, dấu hiệu ngạt mũi còn thấy khi trẻ muốn bú mẹ nhưng ngậm vú thì không thở được nên trẻ lại phải nhả vú mẹ ra để thở, và tất nhiên là trẻ sẽ khóc. Bệnh thường kèm theo ho, nếu có biến chứng viêm phế quản, ho sẽ trở nên trầm trọng hơn nhiều. Ngoài ra có thể thấy trẻ mệt mỏi, biếng ăn, quấy khóc, hơi thở hôi.

Biểu hiện bên trong hốc mũi đầy mủ nhầy, không thể hoặc khó khám vòm họng qua mũi trước. Ở trẻ lớn, sau khi hút sạch mũi nhầy trong hốc mũi, đặt thuốc làm co niêm mạc mũi có thể nhìn thấy tổ chức V.A ở nóc vòm phủ bởi lớp mủ nhầy.  Khám họng thấy niêm mạc đỏ, một lớp nhầy trắng, vàng phủ trên niêm mạc thành sau họng từ trên vòm chảy xuống, khi khám tai màng nhĩ mất bóng, trở nên xám đục, hơi lõm vào do tắc vòi nhĩ, triệu chứng rất có giá trị để chẩn đoán V.A.  


Triệu chứng điển hình nhất là có thể sờ thấy hạch nhỏ ở góc hàm, rãnh cảnh, có khi cả ở sau cơ ức - đòn - chũm, hơi đau, không có hiện tượng viêm quanh hạch, nội soi mũi sau hoặc soi cửa mũi sau gián tiếp bằng gương nhỏ ở trẻ lớn và người lớn sẽ thấy được viêm va hạt V.A ở vòm mũi - họng sưng  tấy đỏ,một số trường hợp nặng có thể bưng mủi màu trắng to, có mủ nhầy phủ lên trên. 

 

bệnh V.A
Triệu chứng viêm V.A thường gặp ở trẻ nhưng đôi khi người lớn cũng có thể mắc phải


Triệu chứng viêm V.A xuất hiện từ 18 tháng đến 6 - 7 tuổi, trẻ khi bệnh thường hay sốt vặt, em bé phát triển chậm so với lứa tuổi, kém nhanh nhẹn, ăn uống kém, người gầy, da xanh, trẻ đãng trí, kém tập trung tư tưởng thường do tai hơi nghễnh ngãng và não thiếu oxy do thiếu thở mạn tính, thường học kém.
 
Triệu chứng cơ năng là ngạt tắc mũi lúc đầu ngạt ít sau ngạt nhiều tăng dần, thường xuyên há miệng để thở, nói giọng mũi kín, mũi thường bị viêm, tiết nhầy và chảy mũi thò lò ra cửa mũi trước hay thường gọi là sổ mũi, trẻ thường xuyên ho khan, ngủ không yên giấc, ngáy to, giật mình, tai nghe kém hay bị viêm. Khi soi mũi trước sẽ thấy hốc mũi đầy mủ nhầy, niêm mạc mũi phù nề, cuốn mũi dưới phù nề, hút hết dịch mủ nhầy, làm co niêm mạc mũi có thể nhìn thấy khối sùi bóng bưng mủ, đỏ tấy mấp mé ở cửa mũi sau. 

Viêm V.A mạn tính: Hai dấu hiệu chủ yếu là chảy mũi và ngạt mũi mạn tính, nước mũi trong hoặc nhày hoặc mũi mủ (bội nhiễm), chảy mũi kéo dài. Ngạt mũi có nhiều mức độ, ít thì chỉ ngạt về đêm, nhiều thì ngạt suốt ngày, thậm chí tắc mũi hoàn toàn, trẻ phải thở bằng miệng, trẻ thường ngáy to khi ngủ với những cơn ngừng thở khi ngủ hết sức nguy hiểm. Nếu viêm V.A mạn tính kéo dài không được điều trị, trẻ bị thiếu ôxy mạn tính có thể gây nên những biến đổi đặc trưng trên khuôn mặt của trẻ (bộ mặt V.A).

Khám nội soi mũi - vòm họng sẽ thấy thành sau họng có nhiều khối lympho to bằng hạt đậu xanh và mũi nhầy chảy từ vòm xuống họng, tai hấy màng nhĩ sẹo hoặc lõm vào, màu hồng do sung huyết toàn bộ ở màng nhĩ hoặc góc sau trên. Em bé khi bị viêm viêm V.A có biểu hiên da xanh, miệng há, răng vẩu, răng mọc lệch, môi trên bị kéo xếch lên, môi dưới dài thõng, hai mắt mở to, người ngây ngô. 


bênh V.A cấp tính
Bệnh ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ

 

Cách điều trị bệnh V.A ở trẻ em 


− Đối với viêm V.A cấp tính, chủ yếu điều trị triệu chứng, nâng cao thể trạng, chỉ dùng kháng sinh khi nghi ngờ nhiễm khuẩn hoặc đe dọa biến chứng. Điều trị như viêm mũi cấp tính thông thường bằng hút mũi, rỏ mũi để bệnh nhân dễ thở và thuốc sát trùng nhẹ (ephedrin 1%, argyron 1%) dùng cho trẻ nhỏ. Kháng sinh toàn thân: dùng cho những trường hợp nặng và có biến chứng, nâng đỡ cơ thể, những trường hợp viêm cấp tính kéo dài, thầy thuốc phải sờ vòm để giải phóng mủ tụ lại trong tổ chức V.A hoặc nạo V.A "nóng" với điều kiện cho kháng sinh liều cao trước và sau khi điều trị, nhưng rất hãn hữu.
 
− Đối với viem V.A man tinh chủ yếu là cân nhắc chỉ định phẫu thuật nạo V.A. Nạo V.A hiện nay rất phổ biến, nhưng khi nào nạo và không nạo V.A cần phải thực hiện theo đúng chỉ định và chống chỉ định. Nạo V.A là thủ thuật tương đối đơn giản, nhanh, có hiệu quả, được coi là biện pháp vừa điều trị (nạo bỏ hết tổ chức V.A), vừa phòng bệnh (tránh các biến chứng do V.A gây ra). Có thể nạo bằng bàn nạo La Force hoặc bằng thìa nạo La Moure (gây tê) hoặc bằng dao Hummer, Coblator, dao Plasma (gây mê, kết hợp nội soi mũi…). Cắt amiđan kết hợp nạo V.A dưới gây mê nội khí quản bằng dao điện, Laser, Hummer... 

− V.A gây các biến chứng gần: viêm tai, viêm đường hô hấp, viêm hạch, gây biến chứng xa: viêm khớp cấp tính, viêm cầu thận cấp tính… V.A quá phát, ảnh hưởng đến đường thở, thường thì bác sĩ tiến hành nạo V.A cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên, thời gian hợp lý nhất là từ 18-36 tháng tuổi. 

>>Xem thêm: 
Những điều nên làm khi trẻ bị viêm amidan
 

viêm V.A cấp tính
Cần đến các trung tâm chuyên khoa để được khám và chữa bệnh kịp thời


Có nên nạo V.A cho trẻ không?

Nhiệm vụ của V.A cấp tính là nhận biết và định dạng các yếu tố gây bệnh xâm nhập cơ thể và giúp cơ thể sản xuất ra các kháng nguyên bảo vệ cơ thể, nhưng nó cũng thường xuyên bị tấn công. Một số người cho rằng V.A cũng có chức năng bảo vệ cơ thể và không nên nạo đi ngay cả khi nó bị viêm nặng. Đó thực sự là những quan niệm hết sức sai lầm.

Tuy V.A có chức năng như đã nói ở trên nhưng không phải là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng này. Mặt khác, khi V.A đã bị bệnh, viêm đi viêm lại nhiều lần thì nó cũng không còn khả năng để thực thi chức năng của mình nữa, V.A bị quá phát sẽ làm bít tắc lỗ mũi sau, cản trở đường thở bằng mũi, làm ứ đọng dịch và mủ ở mũi. Những hiện tượng này gây ra rất nhiều hậu quả tai hại cho trẻ: thiếu ôxy não, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và trí tuệ. Bản thân một V.A bị viêm nhiễm nhiều còn là nơi trú ngụ lý tưởng của vi khuẩn gây bệnh, để rồi từ đó gây ra các viêm nhiễm ở các khu vực lân cận như mũi, xoang, họng, tai giữa, phế quản...

 

Cách phòng bệnh và biến chứng 
 

V.A có thể gây nên những cơn khó thở đột ngột, dữ dội về đêm và kèm theo cơn hen xuất hiện mau hơn và nặng hơn. Ngoài ra, nếu không trị dứt điểm bệnh V.A mạn tính có thể gây nên các bệnh như bệnh viêm tai giứa, viêm đường tiêu hóa gầy đau bụng đi ngoài ra nhầy, nước, viêm hách gây áp xe là áp xe sau thành họng ở trẻ nhỏ, bệnh thấp khớp cáp ở người lớn tuổi, bệnh cầu thận cấp, viêm ở mắt là viêm mạn tiếp hợp, chảy nước mắt ảnh huongrq đến sự phát triển của cơ thể như cơ thể bị biến dạng, lồng ngực bị dẹp và hẹp bề ngang, lưng cong hoặc gù,  bụng ỏng đít teo, luôn mệt mỏi lười biếng, buồn ngủ, kém thông minh, là nguyên nhân của việc nghe kém và thở kém nên cơ thể không bình thường.
 

bệnh V.A mạn tính
V.A có thể gây nên những cơn khó thở đột ngột, dữ dội về đêm


Nâng cao sức đề kháng của cháu bé bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý, khoa học, sử dụng các thuốc bổ, thuốc tăng cường miễn dịch đối với các cháu có sức khỏe yếu, suy dinh dưỡng. − Phòng tránh lây lan tốt trong các vụ dịch lây truyền theo đường hô hấp, vệ sinh mũi họng, răng miệng tốt, giữ ấm khi thời tiết thay đổi, khi có viêm nhiễm mũi họng, cần điều trị đúng và kịp thời. 
 
Tag: 
viêm V.A cấp ở trẻ em, viêm V.A cấp kiêng ăn gì, điều trị viêm V.A cấp, viêm V.A cấp có nguy hiểm không, viêm V.A cấp uống thuốc gì, viêm V.A cấp mủ, viêm V.A mãn tính, viêm V.A cấp tính có nguy hiểm không

Tin liên quan